Tuyên truyền Phòng chống suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì cho trẻ khuyết tật

BÀI TUYÊN TRUYỀN

Phòng chống suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì cho trẻ khuyết tật

 

I. Phòng chống suy dinh dưỡng

1. Suy dinh dưỡng là gì?

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và protein cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể PT. SDD làm ảnh hưởng tới sự phát triển thể chât, tinh thần và vận động của trẻ.

2. Nguyên nhân

Nuôi trẻ không đúng phương pháp, khi mẹ thiếu hoặc mất sữa cho trẻ ăn bổ sung không đúng cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân quan trọng nhất hay gặp là:

- Do bà mẹ thiếu kiến thức dinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm sóc con cái.

- Do ốm đau kéo dài: trẻ mắc bệnh nhiểm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lị…

- Do điều kiện kinh tế xã hội.

3. Những trẻ có nguy cơ dễ bị suy dinh dưỡng

Trẻ từ 6-18 tháng tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng cao nhất vì lứa tuổi này bắt đầu ăn bổ sung và giảm dần bú mẹ. Trẻ thấp cân (dưới 2500g). Trẻ không được bú sửa mẹ trong năm đầu. Trẻ thường xuyên bị mắc bệnh nhiểm khuẩn, tiêu chảy, viêm phổi. Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh, có nguy cơ bị SDD. Trẻ sống trong gia đình đông con, kinh tế khó khăn. Trẻ không được ăn đúng và đủ theo lứa tuổi. Nhiều mẹ nghĩ để phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm chỉ cần cho ǎn bột muối, thức ăn dặm thiếu dầu mỡ, thức ǎn động vật, rau xanh, hoa quả.

Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai ǎn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ǎn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng. Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi. Thiếu chǎm sóc hay đứa trẻ bị “bỏ rơi”: Ngoài chǎm sóc về ǎn uống, để phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm đứa trẻ cần chǎm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chǎm sóc về tâm lý, tình cảm và chǎm sóc về vệ sinh vấn đề chủ quan của phần đông người lớn

4. Hậu quả của SDD

- Tăng nguy cơ mắc bệnh như nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy… SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh này xẩy ra và kéo dài, mắc bệnh làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng, vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn.

- Chậm phát triển thể chất: ảnh hưởng đến tầm vóc của trẻ. Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. Chiều cao của trẻ được quy định bởi di truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết để trẻ đạt tối đa tiềm năng di truyền của mình.

- Chậm phát triển tâm thần: trẻ suy dinh dưỡng thường là thiếu nhiều chất, trong đó có những chất rất cần thiết cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ. Trẻ bị SDD thường bị chậm chạp, lờ đờ, vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo giảm khả năng tiếp thu trong học tập.

5. Xác định suy dinh dưỡng

Sử dụng biểu đồ tăng trưởng để đánh giá tình trạng SDD. Kết quả nằm từ trong kênh -2 đến +2 là bình thường. Nếu kết quả của trẻ nằm ở kênh dưới -2 và -3 là SDD vừa và  SDD nặng.

6. Chăm sóc khi trẻ bị suy dinh dưỡng

Vệ sinh ăn uống: Cho trẻ ăn chín uống sôi, thức ăn nấu xong cho trẻ ăn ngay, không cho trẻ ăn ở những nơi bụi bặm, đường xá, công trường xây dựng vì đó là nguồn lây nhiều bệnh như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn.

Vệ sinh cá nhân: Mẹ thường xuyên tắm rửa, vệ sinh thân thể cho trẻ, xây dựng cho trẻ thói quen giữ gìn răng miệng sạch sẽ, không ăn nhiều đồ ngọt để tránh các bệnh sâu răng, viêm lợi, tạo thói quen rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện, cắt móng tay cho trẻ. Không để trẻ lê la dưới đất bẩn. Không cho trẻ mút tay, không quệt tay bẩn lên mặt, không đưa đồ vật, đồ chơi bẩn lên miệng để tránh các bệnh giun sán.

Khích lệ trẻ: Thường xuyên động viên, khuyến khích trẻ, tạo cảm giác vui vẻ trong bữa ăn. Mẹ có thể cho trẻ ăn cùng gia đình, khi mọi người ăn uống, nói chuyện vui vẻ sẽ tạo cho trẻ sự thích thú với bữa ăn. Mẹ tuyệt đối không nên quát mắng, dọa nạt hay đánh đập bắt trẻ ăn, vì khi này sẽ tạo nên áp lực tâm lý, khiến trẻ ngày càng sợ ăn, dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ nặng hơn.

Khi trẻ ốm, đặc biệt là khi bị tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp cần biết cách xử trí ban đầu tại nhà. Ngoài việc điều trị bằng thuốc, cần coi trọng việc chăm sóc và nuôi dưỡng thích hợp để giúp trẻ mau khỏi bệnh và chóng hồi phục. Nếu trẻ bị nhiễm khuẩn, mẹ không được cho con sử dụng kháng sinh tùy tiện mà cần theo chỉ dẫn của bác sĩ.

 7. Phòng chống suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng ở trẻ em ở thể phòng ngừa và khắc phục theo một số gợi ý dưới đây:

Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu: Sữa mẹ luôn là thức ăn đầu đời hoàn hảo nhất cho trẻ sơ sinh và là thức ăn tốt, đựoc trẻ chấp nhận trong giai đọan sau. Sữa mẹ, ngoài cung cấp chất dinh dưỡng còn cung cấp các yếu tố chống lại bệnh tật, bảo vệ trẻ khỏi các bệnh lý nhiễm trùng.

Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bằng bữa ăn hợp lý: Tập cho trẻ ăn dặm khi bắt đầu 6 tháng tuổi. Cho trẻ ăn đầy đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng (bột đường, đạm, béo), không kiêng khem, và có thể duy trì sữa mẹ trong thời gian dưới 2 tuổi. Nếu không có sữa mẹ đủ, lựa chọn loại sữa thay thế phù hợp.

Vệ sinh an toàn thực phẩm: Là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệ trẻ tránh các bệnh nhiễm trùng đường ruột, giun sán… Chọn lựa thực phẩm tươi cho trẻ, tránh bảo quản dài ngày trừ trường hợp có tủ cấp đông đúng quy cách, hạn chế cho trẻ dùng các thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp, nấu nướng thức ăn chín kỹ.

Vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân cho trẻ và người chăm sóc trẻ.

Theo dõi biểu đồ tăng trưởng cho trẻ hàng tháng: Nhằm phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng hoặc các nguy cơ nếu có và can thiệp sớm.

Ngừa và trị bệnh: Điều trị triệt để các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy… không lạm dụng kháng sinh mà chỉ dùng kháng sinh đúng chỉ định, đủ liều, đủ thời gian, chăm sóc dinh duỡng tích cực trong thời gian bệnh và phục hồi dinh dưỡng sau thời gian bệnh.

Uống thuốc tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần.

Khuyến khích bé tập thể dục thường xuyên. Tập thể dục sẽ giúp cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra bình thường và bài tiết chất độc không mong muốn ra khỏi cơ thể. Nếu trẻ không thích tập thể dục, bạn có thể tổ chức một số trò chơi vui nhộn hoặc đưa bé đi bơi, đạp xe.

Suy dinh dưỡng ở trẻ em hoàn toàn có thể phòng ngừa và khắc phục bằng cách cải thiện chế độ ăn hàng ngày. Tuy nhiên, chỉ nên cung cấp đủ các dưỡng chất phù hợp theo tình trạng của trẻ để tránh gây ra hiện tượng béo phì hoặc các bệnh lý do dư thừa chất khác.

 II. Phòng chống thừa cân béo phì.

1. Khái niệm

Thừa cân béo phì là tình trạng cân nặng vượt quá quy định, tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

2. Nguyên nhân gây béo phì

a. Chế độ dinh dưỡng

Trẻ em thường thích đồ ngọt, các món ăn vặt, thức uống có ga, thực phẩm chiên rán và đồ ăn nhanh. Những thực phẩm này không chỉ ảnh hưởng tới cân nặng mà còn tác động xấu tới hệ tiêu hóa và răng miệng của trẻ.

Mặt khác, trẻ em thường xuyên tiếp xúc với quảng cáo về bim bim, bánh kẹo, kem, nước ngọt và đồ ăn nhanh. Những quảng cáo có màu sắc sặc sỡ, hương vị thơm ngon và bài hát sôi động này càng kích thích sự tò mò, hứng thú của trẻ. Các cửa hàng tiện lợi, quán ăn vặt quanh cổng trường và máy bán hàng tự động cũng tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp cận những món ăn này.

 

b. Thói quen ít vận động

Với sự phát triển của khoa học công nghệ và internet, trẻ em ngày càng dành ít thời gian chạy nhảy ngoài trời. Thay vì đá bóng, đuổi bắt, trẻ thích xem phim hoạt hình trên tivi và điện thoại. Những sân chơi, công viên bị thay thế bởi các tòa nhà cao tầng và trung tâm thương mại càng đẩy trẻ lại gần trò chơi điện tử. 

Nếu không hoạt động thể chất, trẻ không thể tiêu thụ hết nguồn năng lượng nạp vào cơ thể mỗi ngày. Hơn nữa, nhiều trẻ có cảm giác thèm ăn mạnh mẽ khi xem tivi. Thói quen vừa xem vừa ăn khiến trẻ không kiểm soát được lượng đồ ăn đưa vào cơ thể. Trong khi đó, các món ăn vặt cũng không có lợi cho sức khỏe của trẻ.

c. Ảnh hưởng từ gia đình

Bố mẹ chính là tấm gương để trẻ em quan sát, bắt chước và học hỏi. Bố mẹ ít hoạt động thể chất thì con cái cũng không yêu thích vận động. Một vài gia đình khác lại quá bận rộn với công việc nên không có đủ thời gian chơi thể thao hoặc đi dạo cùng con cái.

Bên cạnh đó, thói quen ăn uống của gia đình cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới cân nặng của trẻ. Khoảng 15 năm đầu đời, chế độ ăn uống của trẻ hầu hết do bố mẹ quyết định. Nếu bố mẹ đồng ý cho trẻ ăn bánh kẹo, trẻ sẽ rất vui và thoải mái tận hưởng hương vị ngọt ngào đó. Nếu bố mẹ ăn ít rau và trái cây, trẻ cũng không hứng thú với những loại thực phẩm bổ dưỡng này.

Những sai lầm trong nuôi dưỡng của bố mẹ cũng góp phần xây dựng hành vi ăn uống không kiểm soát ở trẻ. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần học cách nhận biết khi nào trẻ no và đói. Tuy nhiên, chính hành động ép ăn của bố mẹ khiến trẻ phải ngó lơ tín hiệu no bụng và cố ăn hết suất. Dần dần theo thời gian, trẻ không còn khả năng nhận biết tín hiệu no để kiểm soát lượng thức ăn tiêu thụ và ngừng ăn đúng lúc.

d. Yếu tố di truyền

Một số trẻ có nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn bạn bè đồng trang lứa do yếu tố gen di truyền. Những trẻ này thừa hưởng gen béo phì từ bố mẹ, dẫn đến cơ thể rất dễ tăng cân. Khi trẻ có bố hoặc mẹ béo phì thì nguy cơ trẻ bị béo phì là 50%. Nếu cả hai bố mẹ đều dư thừa cân nặng thì con cái của họ có 80% nguy cơ béo phì. Khi so sánh những cặp song sinh cùng trứng, tỷ lệ tương đồng về khối lượng mỡ trên cơ thể là 80%, cho dù hai đứa trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường khác biệt hoặc cách xa nhau. Với những cặp song sinh khác trứng, tỷ lệ này giảm còn 40%.

Với sự phát triển của ngành di truyền học, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều gen trong cơ thể người liên quan tới tình trạng béo phì như FTO, MC4R… Những gene này ảnh hưởng tới cảm giác thèm ăn và chuyển hóa lượng mỡ dư thừa của cơ thể.

Hội chứng Prader Willi là bệnh lý di truyền hiếm gặp ở trẻ em, liên quan tới béo phì và đã có cơ chế bệnh sinh tương đối rõ ràng. Nguyên nhân của hội chứng này là do biến đổi nhiễm sắc thể số 15. Chính sự biến đổi di truyền này đã ảnh hưởng tới vùng dưới đồi trong não bộ của trẻ, dẫn đến tăng cảm giác thèm ăn và nguy cơ béo phì. Như vậy, rõ ràng yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng tới cân nặng của trẻ.

e. Nguyên nhân bệnh lý

Khoảng 20% trẻ em thừa cân, béo phì do nguyên nhân bệnh lý. Ví dụ như u não, tổn thương não sau phẫu thuật, chấn thương sọ não, các bệnh lý nội tiết (suy giáp, cường vỏ thượng thận, thiếu hormone tăng trưởng…) hoặc do sử dụng thuốc kéo dài (corticoid, depakine). Các vấn đề sức khỏe thực thể này kích thích cảm giác thèm ăn hoặc làm rối loạn trung tâm điều hòa ăn uống khiến cân nặng của trẻ tăng cao khó kiểm soát.

Đau đầu, nhìn mờ, vàng da, chậm phát triển vận động – trí tuệ, rậm lông, kinh nguyệt bất thường… là những dấu hiệu gợi ý nguyên nhân bệnh lý. Bạn cần cảnh giác với những triệu chứng bất thường này ở trẻ thừa cân, béo phì để kịp thời phát hiện và đưa trẻ đi khám.

Thừa cân, béo phì ở trẻ em là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng toàn cầu và sẽ tiếp tục bùng nổ trong tương lai. Hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng cân không kiểm soát ở trẻ em sẽ giúp bạn lên kế hoạch phòng ngừa tốt nhất.

3. Hậu quả của chứng thừa cân, béo phì

Chứng thừa cân, béo phì ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ khi trưởng thành. Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởng sớm. Trước dậy thì, chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn so với bạn bè. Ngoài ra, chứng béo phì cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật (tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, sỏi mật, viêm khớp...) và tử vong. Mắc các bệnh về da, do cọ xát giữa quần ao với da khi vận động. Mắc các bệnh về hô hấp; về tim mạch; đường tiêu hóa; về nội tiết và chuyển hóa. Hậu quả về kinh tế xã hội của béo phì, gây ảnh hưởng đến tâm lý ở trẻ em.

4. Phòng chống thừa cân béo phì

- Chế độ ăn hợp lý: Cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chỉ cai sữa sau 2 năm. Nếu phải nuôi bằng sữa bột, không nên sử dụng thêm đường hay tinh bột. Khi trẻ ăn dặm, thức ăn phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết để giúp tăng trưởng tối đa. Đối với trẻ lớn và trẻ vị thành niên, cần tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp theo từng lứa tuổi (như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội...). Sinh hoạt điều độ, hạn chế xem vô tuyến, chơi điện tử hoặc thức quá khuya. Về ăn uống, cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng để trẻ phát triển bình thường; khuyến khích ăn rau và hoa quả. Hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng và đồ uống có đường.

- Tập cho trẻ thói quen đi ngủ sớm trước 21h.

- Tăng cường hoạt động thể lực.

- Theo dõi tăng trưởng.

5. Tư vấn phụ huynh học sinh

- Cha mẹ cần phối hợp với nhà trường để phát hiện sớm suy dinh dưỡng hoặc thừa cân, béo phì để xử trí kịp thời. Chế biến khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn một loại thực phẩm nào đó. Nếu uống sữa nên uống không đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa bột tách bơ). Không nên uống sữa đặc có đường.

- Chế biến thức ăn: Hạn chế các món rán, xào, nên làm các món luộc, hấp, kho. Nên nhai kỹ và ăn chậm, ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích luỹ nhanh hơn. Nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, giảm ăn về chiều và tối. Nên ăn nhiều rau xanh, quả ít ngọt. Giảm bớt gạo thay bằng khoai, ngô là những thức ăn cơ bản giàu chất xơ. Cháo, bột cần có mức năng lượng thấp, không cho thêm các thực phẩm nhiều béo vào bát bột, cháo của trẻ như: bơ, phomat, sữa giàu béo. Trẻ ăn uống hoạt động tích cực để phòng thừa cân, béo phì. Hạn chế tối đa cho trẻ uống các loại nước ngọt có ga. Cho trẻ ăn ít các loại bánh kẹo, đường mật, kem, sữa đặc có đường. Không nên dự trự sẵn các loại thức ăn giàu năng lượng như: Bơ, pho mát, bánh, kẹo, chocoat, kem, nước ngọt trong nhà. Không nên cho trẻ ăn vào lúc tối trước khi đi ngủ. So với điều trị bằng chế độ ăn, tăng cường hoạt động thể lực tỏ ra có hiệu quả hơn, giúp trẻ phát triển chiều cao và duy trì sức khoẻ tốt. Trẻ tăng cường vận động để phát triển cân đối, không bị thừa cân, béo phì. Tạo niềm thích thú của trẻ đối với các hoạt động thể dục thể thao, đi bộ, bơi lội, đi xe đạp…

- Các bậc cha mẹ cần quan tâm ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp trẻ năng động. Chú trọng những sở thích của trẻ tham gia các môn thể thao dễ dàng gần gũi với cuộc sống như: đi bộ đến trường, chạy, nhảy dây, đá bóng, đánh cầu lông, đá cầu, leo cầu thang… Nên hướng dẫn trẻ làm các công việc ở nhà: Lau dọn nhà cửa, xách nước tưới cây, bưng bê đồ đạc… Hạn chế ngồi xem tivi, video, trò chơi điện tử… Cân đối hợp lý giữa học và chơi, nên tạo điều kiện để trẻ được vui đùa chạy nhảy sau những giờ học căng thẳng để trẻ có thể phát triển cân đối cả thể chất và tinh thần.

 

Nguồn: Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh Thái Nguyên
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Hướng dẫn sử dụng một số công cụ, phần mềm tổ chức dạy-học trực tuyến (Bài 1: Phần mềm ViettelStudy) 08/02/20

Như đã đưa tin, bộ phận CNTT của Sở sẽ liên tục cập nhật các cách làm thực tế, video chia sẻ kinh nghiệm, các bài viết của các chuyên gia giáo dục, nhà giáo có kinh nghiệm, các ứng dụng CNTT hữu ích nhằm mục đích triển khai hoạt động học trực tuyến tới các đơn vị, nhà trường, giáo viên, học sinh. Đề nghị các đơn vị nghiên cứu, học tập và chia sẻ các cách làm hiệu quả của đơn vị mình. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ đồng chí Lý Tiến Hải, chuyên viên Sở GDĐT, số điện thoại, zalo: 0973870888, email: hailt.so@thainguyen.edu.vn hoặc thường xuyên truy cập website: http://thainguyen.edu.vn

Một số biện pháp dạy học, giao việc cho học sinh học tập tại nhà 06/02/20

Nhằm đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy và học, đặc biệt trong thời gian học sinh nghỉ học ở nhà do dịch cúm do chuẩn mới vi rút Corona gây ra, Sở GDĐT Thái Nguyên đã có văn bản số 184/SGDĐT-GDTrH ngày 06/02/2020 hướng dẫn tổ chức hoạt động học trực tuyến tới các đơn vị.

Hướng dẫn sử dụng một số công cụ, phần mềm tổ chức dạy-học trực tuyến (Bài 2: Công cụ tiện ích của Google) 08/02/20

Như đã đưa tin, bộ phận CNTT của Sở sẽ liên tục cập nhật các cách làm thực tế, video chia sẻ kinh nghiệm, các bài viết của các chuyên gia giáo dục, nhà giáo có kinh nghiệm, các ứng dụng CNTT hữu ích nhằm mục đích triển khai hoạt động học trực tuyến tới các đơn vị, nhà trường, giáo viên, học sinh. Đề nghị các đơn vị nghiên cứu, học tập và chia sẻ các cách làm hiệu quả của đơn vị mình. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ đồng chí Lý Tiến Hải, chuyên viên Sở GDĐT, số điện thoại, zalo: 0973870888, email: hailt.so@thainguyen.edu.vn hoặc thường xuyên truy cập website: http://thainguyen.edu.vn

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 17
Hôm qua : 48
Tháng 01 : 1.381
Năm 2022 : 1.381